Danh từ Đức Thánh Linh và Thánh Linh trong Thánh Kinh Tân Ước

Dẫn nhập

 

Tin Lành là ân điển của Đức Chúa Trời ban cho mọi dân tộc, vì thế dịch thuật là một công tác trọng yếu trong việc truyền bá Tin Lành cho người chưa được cứu và trong việc môn đệ hóa tín đồ. Những nhu cầu sơ khởi và căn bản là phiên dịch nguyên tác Thánh Kinh ra nhiều ngôn ngữ rồi đến các tài liệu giải kinh, thần học, các tài liệu lịch sử Hội Thánh, và các tài liệu bồi linh. Tuy nhiên, quan trọng nhất và cần thiết nhất luôn luôn là việc phiên dịch Thánh Kinh. Tin Lành của Đức Chúa Trời có quyền phép để cứu mọi kẻ tin và Tin Lành không ngừng được rao giảng gần 2,000 năm nay; nhưng Thánh Kinh, lời hằng sống của Đức Chúa Trời là linh lương nuôi dưỡng tâm linh (tâm thần và linh hồn) của con dân Chúa (Phục Truyền 8:3), là lẽ thật có quyền năng thánh hóa những ai đầu phục Chúa (Giăng 17:17).

 

Cho đến nay, Thánh Kinh đã được dịch ra trên 2,000 ngôn ngữ khác nhau và ít nhiều gì mỗi bản dịch cũng có những khuyết điểm. Tùy thuộc vào lòng yêu mến kính sợ Chúa, khả năng, và mục đích của người dịch hay ban dịch thuật mà những khuyết điểm trong công tác phiên dịch Thánh Kinh có mức độ trầm trọng hay không. Những khuyết điểm thường gặp vì sự giới hạn của ngôn ngữ, hoặc giới hạn trong việc thông hiểu nguyên tác là điều dường như không thể tránh khỏi. Các khuyết điểm này không ảnh hưởng đến những lẽ thật căn bản về Tin Lành cứu rỗi của Đấng Christ được trình bày trong Thánh Kinh. Những lầm lỗi trong khi phiên dịch vì bị giới hạn trong việc thông hiểu các mẹo luật cú pháp của nguyên tác thường làm giảm đi vẻ đẹp của lẽ thật trong lời Chúa. Tuy nhiên, viên kim cương vẫn là viên kim cương cho dù phương tiện đẽo gọt, mài dũa rất thô sơ hay vô cùng hiện đại. Phương tiện thô sơ thì bị giới hạn trong việc phô bày vẻ đẹp của viên kim cương, còn phương tiện hiện đại thì làm nổi bật sự tuyệt mỹ của loài ngọc quý.

 

Một trong những khuyết điểm điển hình về việc thiếu thông hiểu mẹo luật cú pháp của nguyên tác là việc các bản dịch không giúp người đọc phân biệt được khi nào thì Thánh Kinh đề cập đến Đức Thánh Linh, một thân vị trong Thiên Chúa Ba Ngôi, khi nào thì Thánh Kinh đề cập đến năng lực và quyền phép của Thiên Chúa được ban cho loài người bởi Đức Thánh Linh hoặc được thể hiện qua Đức Thánh Linh. Hoặc khi nào thì Thánh Kinh đề cập đến Thiên Chúa Ba Ngôi (Chúa Trời), khi nào thì Thánh Kinh đề cập đến Thiên Chúa Ngôi Cha (Đức Chúa Trời).

 

Trong tiếng Hy-lạp, là ngôn ngữ được dùng để viết Thánh Kinh Tân Ước, một danh từ riêng (tên gọi riêng của Chúa, một thiên sứ, một người, một vật) bắt buộc phải có mạo từ xác định đứng trước. Chúng ta hãy xem những thí dụ sau đây:

 

(1) θεος = Chúa Trời / Thiên Chúa, là danh từ Thánh Kinh dùng gọi chung Thiên Chúa Ba Ngôi, hoặc nói đến phẩm chất Thiên Chúa, bản thể Thiên Chúa.

(2) ο θεος = Đức Chúa Trời, có mạo từ xác định ο (Đức) đi trước, là danh từ  riêng Thánh Kinh dùng để gọi Thiên Chúa Ngôi Cha.

(3) λογος = Lời, là danh từ Thánh Kinh dùng để chỉ về lời nói.

(4) ο λογος = Ngôi Lời, có mạo từ xác định ο (Ngôi) đi trước, là danh từ  riêng Thánh Kinh dùng để gọi Thiên Chúa Ngôi Con.

(5) πνευμα / πνευμα  αγιον = Linh / Thánh Linh, danh từ Thánh Kinh dùng để nói đến năng lực và quyền phép của Thiên Chúa.

(6) το πνευμα / το πνευμα το  αγιον / το  αγιον  πνευμα = Đức Linh / Đức Linh Đấng Thánh / Đức Thánh Linh, có mạo từ xác định το (Đức) đi trước, là danh từ  riêng Thánh Kinh dùng để gọi Thiên Chúa Ngôi Linh.

 

I. Quy luật về mạo từ và danh từ trong tiếng Hy-lạp

 

Tiếng Hy-lạp có những quy luật rất là đặc biệt trong việc sử dụng mạo từ và danh từ. Một cách tổng quát, mạo từ và danh từ có:

 

- 3 giống: đực (male – M), cái (female – F), trung tính (neuter – N);

- 4 cách: chủ thể (nominative – N), trực tiếp (accusative – A), gián tiếp (dative – D), sở hữu (genitive – G);

- và 2 số: ít (singular – S), nhiều (plural – P).

 

Mạo từ luôn luôn cùng thể với danh từ đi theo nó về giống, cách, và số . Tiếng Hy-lạp không có mạo từ bất định mà chỉ có mạo từ chỉ định. Mạo từ chỉ định làm biến nghĩa của danh từ đi theo nó. Có ba trường hợp mạo từ được dùng:

 

(1) Đi trước một danh từ trừu tượng, như: η  αληθεια = lẽ thật, chân lý. η là một mạo từ giống cái.

(2) Phân biệt chủ từ với túc từ trong câu văn. Danh từ có mạo từ đi kèm là chủ từ, bất kể vị trí của danh từ đó đứng trước hay sau động từ, như trong: θεος  ην  ο  λογος, thì λογος là chủ từ, và phải dịch là: “Ngôi Lời là Chúa Trời,” không dịch “Chúa Trời là Ngôi Lời.”

(3) Xác định danh từ đi chung với nó là một tên riêng, như:

- ο θεος = Đức Chúa Trời, chỉ về Thiên Chúa Ngôi Cha;

- ο λογος = Ngôi Lời, chỉ về Thiên Chúa Ngôi Con;

- ο ιησους = Đức Jesus;

- το πνευμα = Đức Linh;

- το αγιον  πνευμα = Đức Thánh Linh;

- το  πνευμα  το  αγιον = Đức Linh Đấng Thánh.

 

Để thấy rõ hơn sự quan trọng của quy luật sử dụng mạo từ trong tiếng Hy-lạp, chúng ta hãy khảo sát mệnh đề sau đây trong Giăng 1:1 “θεος  ην  ο  λογος .”

 

- θεος = god = Danh từ: Thần / Thiên Chúa / Chúa Trời / phẩm chất của Chúa Trời / bản thể của Chúa Trời (khi có mạo từ ο đứng trước thì thành danh từ riêng: Đức Chúa Trời, được Thánh Kinh dùng để gọi Thiên Chúa Ngôi Cha.)

- ην = was = Động từ: đã là.

-  ο = the = Mạo từ: ngôi / đức / đấng / vị.

- λογος = word = Danh từ: lời nói (khi có mạo từ ο đứng trước thì thành danh từ riêng: Ngôi Lời, được Thánh Kinh dùng để gọi Thiên Chúa Ngôi Con.)

 

Theo thứ tự của các chữ trong nguyên tác thì mệnh đề trên nếu dịch chữ sang chữ sẽ là Chúa Trời đã là Ngôi Lời (không có mạo từ trước “Chúa Trời” nhưng có mạo từ trước “Lời”); nếu dịch cho đúng văn phạm sẽ là: Ngôi Lời đã là Chúa Trời. Các bản Thánh Kinh Anh ngữ dịch rất chính xác là: “The Word was God”, nhưng Thánh Kinh Việt ngữ dịch là “Ngôi Lời là Đức Chúa Trời”. Chúng ta thấy, bản dịch Việt ngữ đã thêm mạo từ “Đức” (ο) làm biến nghĩa danh từ “Chúa Trời” (θεος.)

 

Trong nguyên tác, Chúa Trời (θεος) được đặt trước Lời (λογος); Chúa Trời không có mạo từ đi trước nhưng Lời có mạo từ đi trước. Sự kiện danh từ Chúa Trời không có mạo từ, được đặt trước Lời nói lên danh từ Chúa Trời được dùng làm thuộc từ, mô tả về phẩm chất, đặc tính Thiên Chúa trong khi mạo từ  Ngôi (ο) đi trước danh từ Lời nói lên Lời là chủ từ, đồng thời là một tên riêng. Ý nghĩa kỳ diệu của mệnh đề này là: Ngôi Lời mang trọn vẹn phẩm chất, đặc tính của Chúa Trời, (What God was, the Word was), Ngôi Lời là Chúa Trời!

 

Chúng ta hãy xét ý nghĩa của những mệnh đề khác nhau dưới đây:

 

(1) ο  λογος  ην θεος  = Ngôi Lời là một thần (The Word was a god).

(2) ο  λογος  ην ο θεος  = Ngôi Lời là Đức Chúa Trời (The Word was the God).

(3) θεος  ην  ο  λογος  = Ngôi Lời là Chúa Trời (The Word was God).

 

Trường hợp (1): λογος có mạo từ và đứng trước, θεος không có mạo từ và đứng sau nói lên “Ngôi Lời là một thần” như bao nhiêu thần khác (thí dụ: các thiên sứ). Đây là tín lý của giáo hội Chứng Nhân của Giê-hô-va (Jehovah’s Witnesses), và giáo hội Mormon, còn được gọi là tà thuyết Arianism. Tà thuyết này phát sinh từ đầu thế kỷ thứ IV do Arius khởi xướng. Điểm căn bản của tà thuyết này cho rằng Đức Chúa Jesus Christ là một vị thần (như các thiên sứ) được dựng nên bởi Đức Chúa Trời .

 

Trường hợp (2): θεος có mạo từ, trở thành một danh từ riêng có nghĩa là Đức Chúa Trời, tức Thiên Chúa Ngôi Cha. Như vậy, ý nghĩa của mệnh đề nói lên “Ngôi Lời là Ngôi Cha”, Cha và Con chỉ là một thân vị, một ngôi. Đây là tín lý của một số giáo hội Ngũ Tuần (Oneness Pentecostals hoặc “Jesus Only”), còn được gọi là tà thuyết Sabellianism, phát xuất từ thế kỷ thứ III do Sabellius khởi xướng. Tà thuyết Sabelliasm cho rằng chỉ có một Đức Chúa Trời trong một thân vị, các danh xưng Đức Cha, Đức Con, và Đức Thánh Linh  là các danh hiệu khác nhau của Đức Chúa Trời. Lập luận điển hình cho tín lý này là một người có thể cùng một lúc mang ba danh hiệu khác nhau, thí dụ: Ông A có thể vừa là con (đối với cha của ông), là chồng (đối với vợ của ông), và là cha (đối với con của ông). Theo ý nghĩa nêu trên thì bản dịch tiếng Việt đã dịch không đúng ý của Thánh Kinh khi dịch θεος  ην  ο  λογος thành “Ngôi Lời là Đức Chúa Trời” vì đã thêm mạo từ “Đức” biến θεος thành danh từ riêng, làm cho mệnh đề có nghĩa: Ngôi Lời và Chúa Cha cùng một thân vị.

 

Trường hợp (3): Ngôi Lời mang phẩm chất của Chúa Trời, nghĩa là Ngài mang đồng bản thể của Chúa Cha (Phi-líp 2:6), nhưng Ngài là một thân vị riêng biệt với Chúa Cha. Đây là tín lý chính thống của Thánh Kinh. Giải thích điển hình cho tín lý này được tìm thấy trong Sáng Thế Ký 2:22,23. A-đam là người, Ê-va ra từ A-đam, mang cùng một bản thể, có cùng một phẩm chất người như A-đam nhưng Ê-va không phải là A-đam. A-đam và Ê-va là hai thân vị khác nhau, nhưng cùng một bản thể người, (cùng một xương, một thịt). Nếu dịch cho đúng nghĩa sang tiếng Việt thì mệnh đề θεος  ην  ο  λογος phải dịch thành “Ngôi Lời là Chúa Trời“, không thêm mạo từ “Đức” cho danh từ “Chúa Trời”.

 

II. Định nghĩa danh từ πνεῦμα

 

Danh từ  πνεῦμα (phiên âm Anh ngữ là “pneuma”) được dùng 350 lần trong nguyên tác tiếng Hy-lạp của Thánh Kinh Tân Ước (Textus Receptus Greek New Testament.) πνεῦμα là một danh từ trung tính, mang nhiều nghĩa khác nhau. Một khó khăn lớn trong việc phiên dịch là khi một chữ trong nguyên tác mang nhiều nghĩa khác nhau thì dịch giả phải vận dụng kiến thức của mình về nguyên tác để hiểu đúng nghĩa được dùng trong câu văn của chữ đó, đồng thời phải tìm chữ tương ứng trong ngôn ngữ phiên dịch hoặc phải tạo ra chữ mới. Những chữ in đậm dưới đây là góp ý về việc phiên dịch danh từ πνεῦμα sang tiếng Việt:

 

(1) Đức Linh / Đức Thánh Linh: Ngôi Linh của Thiên Chúa Ba Ngôi, cùng một bản thể, cùng tự hữu và hằng hữu, cùng năng lực, cùng quyền phép với Ngôi Cha và Ngôi Con.

(2) Thánh Linh: Năng lực và quyền phép của Thiên Chúa Ba Ngôi được ban cho loài người bởi Đức Thánh Linh hoặc được thể hiện qua Đức Thánh Linh.

(3) Thần Linh: Bản thể của Thiên Chúa Ba Ngôi. Bản thể của thiên sứ, của ma quỷ.

(4) Tâm thần: Phần nội tại siêu nhiên của loài người, có khả năng tương giao với thế giới thần linh, bao gồm: trực giác, lương tâm, và chức năng thờ phượng.

(5) Linh / Tinh thần: Khuynh hướng nội tại / tính chất phần nội tại siêu nhiên của loài người.

(6) Hơi: Làn gió, hơi thở ra từ miệng hay mũi

 

Để biết ý nghĩa thực sự của danh từ πνεῦμα được dùng trong mỗi câu Thánh Kinh, chúng ta cần xem xét các yếu tố về văn phạm và văn cảnh.

 

III. Danh từ πνευμα chỉ về Đức Thánh Linh và Thánh Linh

 

Trong Thánh Kinh Tân Ước, πνευμα được dùng để chỉ về Đức Thánh Linh, về năng lực và quyền phép của Thiên Chúa. πνευμα được viết dưới ba hình thức khác nhau.

 

Khi không có mạo từ đi trước thì πνευμα chỉ về Thánh Linh (năng lực và quyền phép của Thiên Chúa Ba Ngôi): 

 

- πνευμα = nguyên thể là πνευματ, số ít, nhưng những danh từ nguyên thể tận cùng bằng ματ thì khi viết phải bỏ đi nét τ.

- πνευματι = biến thể thành túc từ, giữ lại nét τ và thêm nét ι vào phía sau.

- πνευματος = biến thể thành sở hữu cách, giữ lại nét τ và thêm nét ος vào phía sau.

 

Khi có mạo từ το / τω / του đi trước thì πνευμα / πνευματι / πνευματος chỉ về thân vị của Đức Thánh Linh:

 

- το = Mạo từ trung tính đi chung với danh từ nguyên thể πνευμα làm chủ từ hoặc túc từ trực tiếp.

- τω = Mạo từ trung tính đi chung với danh từ biến thể πνευματι làm túc từ gián tiếp.

- του = Mạo từ trung tính đi chung với danh từ biến thể πνευματος làm sở hữu cách.

 

Dưới đây là bảng liệt kê những câu Thánh Kinh trong Tân Ước có danh từ πνευμα dùng để chỉ Đức Thánh Linh hoặc Thánh Linh và vị trí văn phạm của chúng trong các câu văn.

 

1. πνευμα trong vị trí chủ từ

 

-  πνευμα = Linh, chỉ về năng lực, quyền phép của Chúa Trời, (không có mạo từ, trung tính, số ít, làm chủ từ), như trong: Ê-phê-sô 4:4.

-  πνευμα  κυριου  = Linh của Chúa, chỉ về năng lực, quyền phép của Chúa Trời, (không có mạo từ, trung tính, số ít, làm chủ từ), như trong: Lu-ca 4:18; Công Vụ 8:39.

- πνευμα θεου  = Linh của Chúa Trời, chỉ về năng lực, quyền phép của Chúa Trời, (không có mạo từ, trung tính, số ít, làm chủ từ), như trong: Rô-ma 8:9.

-  πνευμα  αγιον  = Thánh Linh, chỉ về năng lực, quyền phép của Đức Thánh Linh, (không có mạo từ, trung tính, số ít, làm chủ từ), như trong: Lu-ca 1:35, Giăng 7:39

- πνευμα  ην  αγιον = Linh chí thánh, chỉ về năng lực, quyền phép của Đức Thánh Linh, (không có mạo từ, trung tính, số ít, làm chủ từ), như trong: Lu-ca 2:25,

- το πνευμα = Đức Linh, chỉ về thân vị của Đức Thánh Linh, (có mạo từ, trung tính, số ít, làm chủ từ), như trong: Ma-thi-ơ 10:20, 12:18; Mác 1:10,12, 3:29; Giăng 15:26, 16:13; Công Vụ 8:29, 10:19, 1:12, 16:7; Rô-ma 8:11,16,26; 1 Cô-rinh-tô 2:10, 3:16; 12:4,11; 2 Cô-rinh-tô 3:6,17; 1 Ti-mô-thê 4:1; Hê-bơ-rơ 3:7; 10:15; Gia-cơ 4:5; 1 Phi-e-rơ 4:14; 1 Giăng 5:6,8; Khải Huyền 2:7,11,17,29; 3:6,13,22, 14:13, 22:17.

- το πνευμα το  αγιον = Đức Linh Đấng Thánh (Đức Thánh Linh) , chỉ về thân vị của Đức Thánh Linh, (có mạo từ, trung tính, số ít, làm chủ từ), như trong: Mác 13:11; Lu-ca 3:22; Giăng 14:26; Công Vụ 1:16, 10:44, 11:15, 13:2, 19:6, 20:23,28, 21:11, 28:25

- το  πνευμα του θεου = Đức Linh của Đức Chúa Trời, chỉ về thân vị của Đức Thánh Linh, (có mạo từ, trung tính, số ít, làm chủ từ), như trong Ma-thi-ơ 3:16; 1 Cô-rinh-tô 2:11

- το  αγιον  πνευμα = Đức Thánh Linh, chỉ về thân vị của Đức Thánh Linh, (có mạo từ, trung tính, số ít, làm chủ từ), như trong Lu-ca 12:12

 

2. πνευμα trong vị trí túc từ


(Trực tiếp khi đi với mạo từ το và giữ nguyên thể πνευμα, hoặc gián tiếp khi đi với mạo từ τω và biến thể thành πνευματι)

 

- εν πνευματι  = Trong/bởi Linh, nghĩa là trong hay bởi năng lực, quyền phép của Đức Thánh Linh, (không có mạo từ, trung tính, số ít, làm túc từ với giới từ εν

Máy ảnh số: Công nghệ… bóp méo sự thật!

Chế độ Slimming Mode của HP giúp người trong ảnh “mảnh mai” hơn

TT – Khi đã có những máy ảnh chỉ dày xấp xỉ 1cm với chip cảm biến lên đến 7-8 megapixel, người ta lại đổ xô chạy theo mốt mới: thêm vào những tính năng “bóp méo hình ảnh thật”…

Xóa mụn, làm mịn da, hay phức tạp hơn là làm người béo trông mảnh mai hơn trong ảnh đều là những thủ thuật đã… xưa như Trái đất, nhưng lại đòi hỏi kỹ năng xử lý ảnh rất cao và phải tốn nhiều thời gian để có được tấm ảnh như ý. Để đáp ứng nhu cầu của những nhiếp ảnh gia nghiệp dư, các hãng sản xuất thi nhau đưa ra những chế độ (mode) mới trong máy ảnh, giúp người sử dụng tha hồ sáng tạo ngay trên máy mà chẳng cần tí kiến thức nào về kỹ thuật nhiếp ảnh hay đồ họa vi tính.

HP đã đi tiên phong với dòng máy Photosmart R và M. Các máy ảnh số thuộc dòng này đều có chế độ Slimming Mode, có tác dụng làm cho người trong ảnh…thon thả hơn. Chế độ mới này là một phần trong phần mềm Design Gallery của HP, giúp “nén” phần giữa khung hình và sau đó kéo dãn để thay đổi tỉ lệ. Tất nhiên công nghệ này không thể “nhắm” chính xác vào người được chụp mà chỉ kéo dài bất kỳ vật thể nào được đặt ở chính giữa khung hình.

Bên cạnh đó, các mẫu máy mới của HP còn có thêm Soft Glow Mode, một chế độ tạo hiệu ứng “airbrush” cho ảnh, tạo ánh sáng dịu trong ảnh chân dung.

Olympus cũng không chịu “kém cạnh” với chế độ… Cuisine Mode (chuyên chụp nhà bếp và các món ăn) hay Sunset Mode (để tạo ra những cảnh hoàng hôn ấn tượng hơn) và Beautiful Skin Tone Mode (làm mịn da).

Cả Canon, HP, Olympus, Nikon đều cung cấp các tính năng làm tăng saturation và làm giàu màu sắc trong ảnh.

Peter Southwick, giám đốc chương trình ảnh báo chí của Đại học Boston, nói: “Những sản phẩm này và tất cả những thay đổi trong nhiếp ảnh, theo tôi, đang làm người ta mất dần lòng tin vào ảnh…Tôi không dám chắc người ta có còn tin vào điều họ nhìn thấy trong ảnh nữa không”.

Đối với ảnh nghệ thuật, việc sử dụng Photoshop và các chương trình chỉnh sửa khác hoàn toàn có thể chấp nhận được. Ghép hai, ba tấm ảnh với nhau để có một tác phẩm như ý cũng không có gì là sai.

Nhưng ảnh báo chí thì khác. Người phóng viên thường chỉ có quyền cắt cúp phần ảnh thừa. Mới đây một phóng viên của Reuters đã bị đuổi việc vì làm giả ảnh. Anh này khẳng định chỉ làm những cột khói trong ảnh trông tối hơn. Trước đó, một phóng viên ảnh của Los Angeles Times, đã làm việc cho báo này 30 năm, cũng bị đuổi việc vì ghép ảnh một binh sĩ người Anh ở Basra đứng trước những người dân Iraq đang cầu xin được bảo vệ với ảnh một nhóm người khác để “tăng hiệu quả”.

Việc phát hiện những chỉnh sửa sau khi chụp như của người phóng viên trên không phải dễ, nhưng nếu người chụp sử dụng các chế độ như Slimming Mode hay Sunset Mode thì còn khó phát hiện hơn nhiều. Chỉ cần một chiếc máy ngắm và chụp bình thường, bất kỳ ai cũng có thể tạo ra những hình ảnh hoành tráng hơn nhiều so với trong thực tế.

Và trong thời đại mà ai cũng có thể trở thành paparazzi như hiện nay, nguy cơ độc giả mất lòng tin vào ảnh báo chí là hoàn toàn có thể xảy ra, nhất là khi các “blogger” đang tham gia ngày một mạnh mẽ vào hoạt động này.

HOÀNG MINH (tổng hợp)

Thi thiết kế Blog với Nokia

TTO – Hãng Nokia vừa công bố một cuộc thi thiết kế Blog với quy mô lớn lần đầu tiên tại Việt Nam. Theo đó, những công dân có tuổi từ 18 trở lên đều có thể đăng ký tham dự.

Cuộc thi này sẽ bao gồm bốn chủ đề chính: Blog có hình ảnh đẹp nhất, Blog hài hước nhất, Blog lãng mạn nhất và Blog Khám phá nhất. Người dự thi sẽ sử dụng các ảnh chụp từ các thiết bị truyền thông đa phương tiện của Nokia để thiết kế, trang trí và tạo blog. Tất cả mọi người đều có thể tham gia bình chọn cho những trang blog mà mình ấn tượng qua trang mạng chính thức của cuộc thi www.nokialifeblog.com.vn hoặc chọn cách bình chọn qua tin nhắn SMS.

Cơ cấu giải thưởng hấp dẫn bao gồm 1 thiết bị truyền thông đa phương tiện thuộc dòng Nokia Nseries công nghệ cao N73 và một máy in Kodak Printer Dock Plus cho 1 giải cao nhất – Blog có hình ảnh đẹp nhất. Mỗi giải Blog lãng mạn nhất, Blog hài hước nhấtBlog khám phá nhất sẽ nhận được một chiếc Nokia N73. Thời gian của cuộc thi sẽ bắt đầu từ 20-9-2006 đến ngày 20-11-2006.

NAM HƯNG

Nguồn tài liệu học AV

Đi vòng vòng thì chộp được trang này

Tuy nhiên, tốc độ tải về hơi bị chậm!

Gửi SMS miễn phí bằng Yahoo Messenger

(NLĐO) Tuy chưa có thông báo chính thức từ Yahoo, nhưng cư dân trên mạng đã rỉ tai nhau về tính năng gửi sms miễn phí từ Yahoo Messenger đến các mạng điện thoại di động tại Việt Nam.

Việc gửi sms thực hiện khá dễ dàng. Đầu tiên, các bạn chỉ cần tải về phiên bản Y! 8.0 tại địa chỉ này. Sau đó tiến hành cài đặt, đăng nhập vào tài khoản Yahoo Messenger như cách thức chat thông thường.

Tiếp theo, bạn nhấn chuột phải vào một nick chat bất kỳ và chọn mục Send an SMS Message… (hình 1).

Hình 1

Khi cửa sổ SMS Message hiện ra, bạn nhập vào số điện thoại di động theo công thức sau: +“+84” –“0” +”Số điện thoại di động”. Ví dụ, bạn muốn gửi tin nhắn đến số 0907079875 thì bạn nhập vào dãy số +84907079875 (hình 2), nếu muốn gửi tin nhắn đến số 0987654321 thì bạn nhập vào là +84987654321

Hình 2

Bạn nhập nội dung tin nhắn (tối đa 142 ký tự) trong trong cửa sổ chat, sau đó nhấn vào nút Send. Bạn sẽ nhận được thông báo của Yahoo cho biết tin nhắn ấy có được gửi đi hay không (hình 3).

Hình 3

Chúng tôi đã nhắn thử thành công với các mạng Mobiphone, Vinaphone và Viettel. Tuy nhiên, tốc độ gửi tin khá chậm (từ 15 – 30 phút cho một tin nhắn). Ở máy điện thoại người nhận sẽ thấy số gửi đến là +0482690501, và trong nội dung tin nhắn có nick mà bạn dùng để đăng nhập vào Yahoo Messenger.

Để chống việc gửi tin nhắn rác, Yahoo chỉ tiếp tục chuyển tin nhắn đến nếu bạn đồng ý trả lời tối thiểu một tin nhắn trở lại nick người nhận (thông qua số +0482690501). Việc nhắn tin từ máy di động đến số +0482690501 bị tính phí 2000đ cho một lần gửi và cũng có nghĩa là bạn đã chấp thuận việc nhận các tin nhắn khác từ Yahoo trong tương lai!

Long Nguyễ

Martin Luther — A Course Wedge

Portrait of Martin Luther

Martin Luther
A Course Wedge

Standing alone, a scholarly monk nailed a notice to the door of Castle Church in Wittenberg, Germany, on October 31, 1517.
Little did he know his pounding hammer would set off controversy that would galvanize the growing Protestant movement. Martin Luther, the once timid village boy, never dreamed he would one day be called the “Father of the Reformation.”
In his Ninety-Five Theses, posted for all to read, he explained how certain practices of the Catholic church in his day did not adhere to the Word of God. With incisive argument, he addressed corruptions and distortions of worship that kept common people from a true understanding of salvation by faith in Christ alone.
Pope Leo X called him a “wild boar.” His own best friend Philip Melanchthon said he was a “violent physician.” Luther admitted the same himself: “God uses coarse wedges for splitting coarse blocks.”
Born in 1484 to a middle class family, Luther had access to both economic and educational advantages. Although his parents loved him dearly and nurtured him well, Luther later explained that their sometimes excessive discipline encouraged his natural cowardice.
It was in a fit of terror in a thunderstorm that he cried out an oath that if God would save him, he would become a monk. Much to his father’s disappointment, in 1505 Luther joined the stringent Augustinian order, which emphasized absolute obedience and self-abasement.
Even within the safety of the monastery walls, however, Luther carried with him his greatest agony–his fear of God. To Luther, God was unapproachably holy. He was obsessed with God’s righteousness and felt crushed by what he saw as God’s unattainable demands of perfection. Many nights, in private penance, Luther would beat himself until he bled and fell unconscious.
His sole consolation was studying the Bible; it was then that he felt closest to God. One day, he meditated on the truth of Romans 1:17: “For in it [the gospel] the righteousness of God is revealed from faith to faith; as it is written, ‘But the righteous man shall live by faith.’”
This was the answer. Luther wept as he accepted Christ’s finished work on the cross as full payment for his sin. He was free at last, and new joy filled his heart. When he began preaching and teaching at the University of Wittenberg, people flocked to hear his vibrant messages.
Church officials grew angrier by the day. Luther’s words, at times caustic and rough, were drawing money and power away from the established church and stirring up both religious and political fervor. The Ninety-Five Theses was a blow that could not be overlooked.
In 1521, Luther was ordered to appear before the Diet (Assembly) of Worms and recant. After hours of prayer, Luther gave them this bold yet humble reply: “My conscience is captive to the Word of God. Here I stand. God help me. Amen.”
Immediately he was declared an outlaw, and his guarantee of safe conduct was revoked. Rumors flew that the church’s supporters would capture him and burn him at the stake. God had other plans for him, though, and Luther was unafraid.
On his journey home, a band of masked men, really Luther’s friends in disguise, “kidnapped” him and rode him to safety on horseback to the castle of Wartburg. In this new refuge, Luther was able to continue writing reform treatises and to complete his translation of the Bible into German, a landmark literary feat.
After the Pope died, Luther returned to more routine life in Wittenberg. He married a former nun, Katherine von Bora, in 1525, and had six children, four of whom survived. Until his death in 1546 at age 63, Luther’s prodigious energy did not flag.
Though battling countless illnesses, ongoing ailments, and bouts of depression, he provided continual guidance for blossoming Reformation activities. He was uncompromising to the last. Biographer Mike Fearon explains Luther’s mission: “Though speaking out plainly against sin, he loved sinners and offered them God’s righteousness as the only solution.”

Luther At Home
At first, Luther insisted he would never marry. But when he helped twelve nuns escape from a convent, he came face to face with Katherine von Bora, the woman who helped a confirmed, forty-one-year-old bachelor change his ways.
Although they were not “in love” when they wed, their marriage became a model of romance and deepest affection that has endeared generations.
He spoke of his home life with characteristic sparkling wit.

  • “In domestic affairs I defer to Katie. Otherwise, I am led by the Holy Ghost.”
  • “Let them [other men] laugh. God and the angels are smiling in heaven.”
  • “I am an inferior lord, she the superior; I am Aaron, she is my Moses.”

Katherine returned his glowing admiration. When Martin died, in bereavement she said: “If I had a principality or an empire and lost it, it would not have been as painful as it is now that the dear Lord God has taken from me this precious and beloved man, and not from me alone, but from the whole world.”

A.W. Tozer — A Life In Pursuit of God

Portrait of A.W. Tozer

A.W. Tozer

A Life In Pursuit of God

Although A. W. Tozer died in 1963, his life and spiritual legacy continue to draw many into a deeper knowledge of God. Tozer walked a path in his spiritual life that few attempt, characterized by a relentless and loving pursuit of God. He longed to know more about the Savior—how to serve and worship Him with every part of his being.
Throughout his life and ministry, Tozer called believers to return to an authentic, biblical position that characterized the early church—a position of deep faith and holiness. “He belonged to the whole church,” says James Snyder in the book, In Pursuit of God: The Life Of A. W. Tozer. “He embraced true Christianity wherever he found it.”
During his lifetime, Tozer pastored several Christian and Missionary Alliance churches, authored more than forty books, and served as editor of Alliance Life, the monthly denominational publication for the C&MA. At least two of Tozer’s books are considered spiritual classics, The Pursuit of God and The Knowledge of the Holy—a tremendous accomplishment for a man who never received a formal theological education. The presence of God was his classroom. His notebooks and tools consisted of prayer and the writings of early Christians and theologians—the Puritans and great men of faith.
Tozer’s conversion to Christianity came when he was seventeen. As a result he gained an insatiable hunger and thirst for the things of God. A cleaned-out area in the family’s basement became his refuge where he could pray and meditate on the goodness of God.
Tozer once wrote, “I have found God to be cordial and generous and in every way easy to live with.” To him the love and grace of Jesus Christ were a recurring astonishment,” writes Snydner.
Although he had not attended Bible college or seminary, Tozer received two honorary doctorates. He accepted an offer to pastor his first church in West Virginia in 1916. By December 1921, Tozer and his wife, Ada, moved to Morgantown where they had the first of seven children, six boys and a girl.
Money was extremely tight in the early days of his ministry. The Tozers made a pact to trust God for all their needs regardless of the circumstances. “We are convinced that God can send money to His believing children—but it becomes a pretty cheap thing to get excited about the money and fail to give the glory to Him who is the Giver!”
Tozer never swayed from this principle. Material things were never an issue. Many have said if Tozer had food, clothing, and his books, he was content. The family never owned a car. Tozer, instead, opted for the bus and train for travel. Even after becoming a well-known Christian author, Tozer signed away much of his royalties to those who were in need.
His message was as fresh as it was uncompromising. His single purpose in life was to know God personally, and he encouraged others to do the same. He quickly discovered a deep, abiding relationship with God was something that had to be cultivated.
While pastoring a church in Indianapolis, Tozer noticed his ministry changing. While he did not depart from the theme of evangelism, God began to lead him into a new phase of ministry. For the first time he began to record his thoughts on paper. This change eventually carved out a place for him as a prolific writer.
In 1928, Tozer accepted a call to pastor the Southside Gospel Tabernacle in Chicago, where he remained for thirty years. The church grew from a small parachurch to a full-fledged church. Missions and the deeper life in Jesus Christ were its two primary focuses.
“Tozer’s sermons were never shallow,” writes Snyder. “There was hard thinking behind them, and [he] forced his hearers to think with him. He had the ability to make his listeners face themselves in the light of what God was saying to them. The flippant did not like Tozer; the serious who wanted to know what God was saying to them loved him.”
Everything Tozer taught and preached came out of the time he spent in prayer with God. It was there that he shut out the world and its confusion, focusing instead only on God. “Our religious activities should be ordered in such a way as to leave plenty of time for the cultivation of the fruits of solitude and silence,” wrote Tozer.
He realized early in his ministry that Christ was calling him to a different type of devotion—one that required an emptying of self and a hunger to be filled to overflowing with God’s Spirit. It was also a devotion that consumed him throughout his life.
Leonard Ravenhill once said of Tozer, “I fear that we shall never see another Tozer. Men like him are not college bred but Spirit taught.”
“God discovers Himself to ‘babes,’” wrote Tozer, “and hides Himself in thick darkness from the wise and the prudent. We must simplify our approach to Him. We must strip down to essentials and they will be found to be blessedly few.
A. W. Tozer died on Monday, May 12, 1963, almost a week after preaching his last sermon. The pursuit was over, the destination reached. A simple epitaph marks his grave in Akron, Ohio: A. W. Tozer—A Man of God.
The wondrous pursuit of God is more than a legacy. It is a way of life passed on to us that we too might experience what A. W. Tozer lived. Have you begun your pursuit of God?