7-Zip Portable 4.42

Ở trang PortableApps.com

7-Zip Portable 4.42 has been released as a multilingual package. It’s the handy 7-Zip file archiver packaged as a portable app, so you can work with your compressed files on the go. It has all the same great features as 7-Zip including support for multiple file formats (7z, ZIP, BZIP, RAR, etc), an easy-to-use file manager and more. Plus, it leaves nothing behind on the PC you use it on. It even supports running from a CD. Read on for all the details…read more

Posted in Giới thiệu phần mềm. Phản hồi đã bị khóa

Chronological Bible Reading Plan (61 Days)

BibleGateWay.com cung cấp cho chúng ta một lịch đọc Thánh Kinh theo niên đại thật hay, mời các bạn ghé xem.

Luyện tiếng Anh với bạn gái ảo

TT
- Nếu bạn muốn tăng cường kỹ năng viết tiếng Anh cũng như khả năng phản ứng nhanh với tình huống ngữ cảnh Anh văn thì tuyệt nhất là có một bạn chat là người bản ngữ.

Phần mềm Virtual Woman (VW) sẽ đem đến cho bạn một người bạn chat vô cùng xinh đẹp, với khả năng nói tiếng Anh điêu luyện và đặc biệt là “nàng” có thể chat thâu đêm suốt sáng đến khi nào bạn chán thì thôi.

VW là một phần mềm chat tiếng Anh với người ảo theo dạng Offline, bạn sẽ hết sức ngạc nhiên trước khả năng ứng phó thông minh cũng như khả năng hài hước của nó.

Trước khi bắt tay vào chat với “nàng”, bạn cũng nên thiết kế riêng cho mình một người bạn chat lý tưởng nhất bằng các công cụ có sẵn của VW. Bạn có thể chọn cho người bạn mình màu da, màu tóc, dáng người, tính cách…

Khi đã hoàn tất các lựa chọn, bạn nhấn vào nút “Build Virtual Woman” để VW thiết kế người bạn “trong mơ” và đưa ra cho bạn bảng liệt kê một số chi tiết về cô gái. Chú ý về số điểm hiện ra ở ô “Difficulty”, nếu điểm số càng cao thì mức độ chat càng phức tạp. Nhấn vào nút “Meet her now” để vào giao diện chat chính thức với cô gái ảo này.

Nàng sẽ luôn chủ động bắt chuyện với bạn bằng những câu chào hỏi rất thông minh và tùy theo tính cách đã chọn mà nàng đưa ra những câu trả lời khôn khéo, tế nhị hoặc hằn học, sâu cay… để đối phó với những lời chat đủ kiểu của bạn.

VW có thể nói là một công cụ luyện tiếng Anh khá hay theo kiểu “học mà chơi, chơi mà học”. Bạn nên chịu khó rèn luyện kỹ năng chat với các bạn gái ảo trong VW một thời gian, cho đến khi đủ năng lực “hạ sơn” là bạn sẽ không còn e ngại chat bằng tiếng Anh trước
bất kỳ cô gái thật nào ngoài đời.

Người dùng có thể vào http://virtualwoman.net/download.htm để tải về bản dùng thử với dung lượng khoảng 32MB.

THỤY KHANH

MetaForum 0.178

Screenshot Blursoft MetaForum utilizes AJAX to generate a unique forum experience. Threads and posts auto-update in real time, with no refreshing required. User-based moderation ensures only the most interesting topics emerge above your viewing threshold, and private threads invite multiple users to engage in a private conversation. Complete with advanced quoting mechanisms, CSS based templates, and statistically normalized user rankings, MetaForum is a fresh, fast, efficient, and completely new perspective on forums and message boards.Homepage: http://www.blursoft.com/metaForum

OGMRip 0.10.0-rc3 (Default branch)

Screenshot OGMRip is an application and a set of libraries for ripping and encoding DVDs into AVI/OGM files using a wide variety of codecs. It relies on mplayer, mencoder, ogmtools, oggenc, and lame to perform its tasks. The GUI features a clean HIG-compliant GNOME 2 interface and tries to minimize (as much as possible) esoteric settings.


License: GNU Lesser General Public License (LGPL)

Changes:
This version fixes x264 and theora encoding, custom video bitrate and scaling parameters, MP3 presets, and autocrop when mplayer’s language is not English. It also features configuration and compilation updates and minor cosmetic enhancements.

Thiền Vào Cõi Không – Cõi Chết Đời Đời

Tác Giả: Nguyễn Huệ Nhật

Có một vấn đề cốt lõi dễ bị hiểu lầm, đó là chân lý của sự sống và nghệ thuật thi ca, văn chương, hội họa rất khác nhau. Trong các lãnh vực nầy người ta hay đem Thiền vào. Nhưng Thiền là gì đối với thi ca nghệ thuật triết lý, trong thi ca nghệ thuật triết lý? Câu hỏi nầy sẽ gợi nhiều câu trả lời rất khác nhau. Vậy chân lý Thiền ở đâu? Thiền là chân lý hay là phương tiện? Cái sau cùng có thể khóa miệng người ta là phải nói rằng thiền là không gì cả, hoặc hơn thế nữa là không không gì cả, nhưng để tuyệt đối hơn cũng phải nói là chân không diệu hữu và đừng nói gì thêm nữa. Im Lặng! Tịnh Lự! Thiền trong Phật Giáo đã bị nghệ thuật hóa, văn chương hóa và triết lý hóa đến nỗi bị nhầm lẫn quá nhiều. Một người không biết gì về thiền cũng có thể mang thiền ra mà giảng dạy và viết lách. Một người khác thực hành cặm cụi về thiền rồi thấy mình thất bại và làm thinh luôn, nhưng một người khác nữa không thực hành gì hết mà chỉ đọc sách chiêm nghiệm, lại cho rằng mình đã ngộ vào chânh lý thiền và tuệ giác, đã gặp được bản lai diện mục, chân như… Họ thuyết giảng, họ nói năng với những ngôn từ cao siêu đến nỗi không ai hiểu được cái sai của họ để mà cãi lại. Nếu những người đó có một số thành công khác, được tiếng tăm sẵn rồi thì càng không có đối tượng phê bình. Như ‘’Đông Phương Bất Bại, Độc Cô Cửu Kiếm’’ chẳng hạn. Thế là số đông cứ vậy mà tiếp nối qua sách vở nhiều đời. Ví dụ Nguyễn Du có tác phẩm Truyện Kiều mà ngày nay ai cũng biết. Cụ Tiên Điền quả thật là một nhà bác học tiếng nôm vô địch trong thể thơ Lục Bát Việt Nam. Với lời thơ, giọng thơ, chất thơ giầu có, cụ Nguyễn Du đã diễn đạt bao nỗi niềm tức tưởi, bao oan trái ngửa nghiêng, bao bất công gian ác, bao ngớ ngẩn chân tình, bao cảnh huống đảo điên của một xã hội bất công phong kiến, mê tín dị đoan, mạnh được yếu thua; niềm hiếu thảo và lòng chung thủy như bọt bèo trước lòng tham lam và bất nghĩa. Cụ Tiên Điền dùng chất liệu văn chương bác học để diễn đạt giá trị nhân phẩm bị vùi dập đến tận cùng mà không có ai binh vực; lương tâm và truyền thống của xã hội bệ rạc đến nỗi không ai còn ý thức chống lại bọn đầu trâu mặt ngựa. Văn chương nghệ thuật của cụ Tiên Điền quá hay, quá hấp dẫn đến nỗi người ta lạm dụng trích dẫn để chứng minh vào lãnh vực triết lý, thần học, thiền mà thực chất trong đó chẳng có gì giống như thế. Lâu nay không thiếu những nhà ‘’trí thức’’ văn nghệ sẵn sàng lạm dụng kiến thức và nghệ thuật của các vĩ nhân để gộp vào chân lý ảo của họ nhằm vênh vang nở mũi phừng phừng. Một cái tượng nghệ thuật dù có được tạc một cách tinh xảo sống động hơn người thật thì cũng không có sự sống thật, nó chỉ nói lên ngón tay tài hoa và một phần tâm hồn của tác giả. Nhưng khi người ta đã say đắm, đã cảm phục rồi thì không thiếu gì những điều ‘’cao siêu’’ được gán oan vào. Một bài thơ hay mang âm vần sắc điệu và ý nghĩa phong phú lắm khi chỉ nói lên được một vài ‘’sự thật’’ trong ý nghĩ, nỗi niềm của tác giả, chứ không phải sự thật của sự sống khách quan. Thế nhưng người ta vẫn mang những bài thơ ấy ra để chứng minh sự giác ngộ, sự chứng quả của tác giả và của …Mình! Chính vì thế mà nhiều người trí thức đã đua nhau lâm căn bịnh dỗm trong thi ca nghệ thuật, và khốn khổ nhất cho họ là khi đọc Lời Hằng Sống của Chúa họ không thấy gì hết ! Sự sống khác với tri thức và nghệ thuật, dù đôi khi chúng ta thấy nó gần kề với tri thức nghệ thuật. Tôn giáo chỉ có tri thức và nghệ thuật, dù tri thức và nghệ thuật không chuyên chở nổi sự sống; không chuyên chở nổi sự sống, nhưng có khả năng làm cho con người nhầm lẫn giữa sự sống và tri thức nghệ thuật. Theo tôi, tri thức và nghệ thuật có thể là dụng cụ cao cấp để con người mô tả một phần nào sự sống, nhưng sự sống thì linh hoạt, phong phú, biến hóa ngay cả trong thế giới tưởng như không có tri thức và nghệ thuật.

Không ai có thể phủ nhận được những thành quả lớn lao và tráng lệ về mặt văn hóa nghệ thuật, tư tưởng và đạo đức qua những ngàn năm do Phật Giáo đem lại cho nhân loại, nhưng con đường rốt ráo để thoát khỏi tội lỗi hay ra khỏi luân hồi như đạo Phật chỉ dẫn thì còn mơ hồ giữa vô tận. Giả thử như có một ai đó làm được đôi điều tốt thì họ trở thành con người tốt (rất tương đối) chứ không phải là con người thật sự giải thoát khỏi tội lỗi. Vì có nhiều giới luật có thể giữ được nhưng không dính dấp gì đến việc giải quyết tội lỗi, trong khi đó có nhiều giới luật dư thừa và nhiều giới luật đáng có thì lại không có. Mà cho dù các giới luật ấy có đầy đủ, có ai áp dụng được đi nữa thì cũng chỉ mới áp dụng được bề ngoài mà thôi. Trên thực tế, con người không thể làm đúng được vài chục phần trăm của những giới luật chi li đó. Trong khi những giới luật bên ngoài rất chi li ấy chỉ áp dụng cho một thiểu số thầy tu để họ được kính trọng, được thờ phượng một cách quá đáng, còn đại đa số tín đồ không hiểu mấy về tôn giáo của mình. Bốn chữ làm lành lánh dữ của các tổ chức tôn giáo thường được thông qua một cách chung chung mơ hồ và nông cạn. Một điều đáng tiếc nữa là các giáo hội theo Chúa còn nặng tính cách tổ chức truyền thống và nghi lễ, luân lý, đạo đức thế gian nên chỉ đưa dẫn người tín đồ vào ý hướng làm lành lánh dữ một cách chung chung như Phật Giáo hoặc các tôn giáo khác mà không dẫn họ vào sự sống Tin Kính Chúa và sự Thỏa Lòng Trong Chúa để nhận thức điều lành, điều dữ theo con mắt Thánh Linh và sự sống phục sinh trong Đức Chúa Jesus Christ. Trong Khi nói đến bốn chữ làm lành lánh dữ thì ai nghe cũng được cả, và ai nói cũng có thể đúng cả. Nhưng định nghĩa tội lỗi và làm lành lánh dữ thì nhiều cá nhân, nhiều tôn giáo, nhiều văn hóa có những chuẩn mực khác nhau. Đối với tôi ngày nay, tiêu chuẩn tuyệt đối để nhìn thấy tội lỗi và sự làm lành lánh dữ là Kinh Thánh. Tôi chưa hiểu hết, nhưng nhờ ơn Thiên Chúa, tôi dạn dĩ lắng nghe và chia xẻ nếu có cơ hội, vì tôi biết Chúa đã dạy tôi điều gì một cách rất chắc chắn qua Lời Ngài. Ngài luôn luôn dắt dẫn chúng ta đi xa hơn. Ngài không muốn ai độc quyền nhận sự sống của Ngài cho riêng họ để đứng nguyên một chỗ. Bởi thế KinhThánh dạy Hội Thánh là Thân Thể của Đấng Christ. Thế gian không hề có một thân thể như vậy, nhưng Chúa lập ra Thân Thể của Ngài cho con dân Chúa khi họ còn ở giữa thế gian. Thế gian sẽ nhìn biết Ngài qua Thân Thể của Đấng Christ.

Vì những chuẩn mực khác nhau giữa thế gian nầy mà người ta lường gạt, người ta trộm cướp, kẻ sát nhân, tên khủng bố đều có những tiêu chuẩn, có những lý lẽ và mục đích riêng trên bốn chữ làm lành lánh dữ chủ quan của họ. Cho nên mạnh ai nấy làm lành lánh dữ theo ý tưởng mà mình cho là đúng và hay, hoặc cao siêu huyền bí… Một đứa con bất hiếu đi bụi đời sống bằng nghề cướp dựt, đâm thuê chém mướn đến khi có vợ có con, anh ta cũng muốn dạy dỗ những đứa con của mình về ý nghĩa hiếu thảo đối với cha mẹ một cách hết lòng. Tôi có thể kể tên một vài người mà tôi thật sự quen biết, những người nầy đã ăn ở với nhiều đàn bà để có nhiều đứa con ở nhiều địa điểm và thời gian khác nhau. Nhiều đứa con của họ chỉ biết mẹ mà không biết cha, hoặc chúng yên trí rằng mình biết cha, nhưng thật ra không phải là người cha chính cống. Vài người đàn ông nầy vẫn sống bình thường và có địa vị trong xã hội, nhưng họ quên luôn cả những đứa con rơi của mình hoặc không muốn (hay không dám) biết đến những đứa con rơi ấy. Hễ khi nghe Huệ Nhật nhắc tới tên vài nhân vật trong sách, họ và bạn bè họ la toáng lên để kết án Huệ Nhật là một kẻ làm hại biết bao hạnh phúc gia đình vốn đã từ lâu ‘’trong ấm ngoài êm’’. Tôi không muốn nêu tên họ, nhưng một vài câu chuyện éo le dính dấp trực tiếp với tôi khi tôi bị hiểu lầm, buộc lòng phải nói ra đôi chút. Nếu không nói ra thì khó mà giải thích một điều gì cốt yếu, nhưng nói ra thì rút dây động rừng. Rừng hoang thú dữ thì động mấy cũng còn lối thoát, nhưng rừng tôn giáo, rừng văn hóa, rừng triết học và đạo lý ngàn năm mà đụng đến là phải liệu hồn !!!

Các ông hay nói về sự cao siêu của Thiền và sự giải thoát giác ngộ, nhưng thực chất họ tìm tòi những điều tôi không nói tới trong quyển sách ấy hầu kiếm cớ quy chụp và xuyên tạc. Tôi không viết một cái gì cao siêu cả, mà con người chúng ta có cái gì là cao siêu đâu? Chúng ta có nhiều thất bại, nhiều nhầm lẫn đáng phải bỏ đi, còn những gì cao siêu là thuộc về Đấng Tạo Hóa toàn năng. Bất cứ người nào tự cho mình là khôn ngoan sáng láng thì người đó dễ gây nhiều sai lầm hơn người khiêm tốn. Người khiêm tốn không làm mất sự khôn ngoan của mình mà lại ít bị sai lầm hơn vì sẵn sàng học hỏi để được hoàn thiện khi có cơ hội. Kinh Thánh dạy rằng Kính sợ Thiên Chúa là khởi đầu mọi sự tri thức (Châm Ngôn 1:7a). Đúng thế, vì Thiên Chúa là Đấng đáng kính sợ vô cùng, Ngài dựng nên vũ trụ và dựng nên chúng ta. Đời sống của chúng ta quá nhỏ nhoi ngắn ngủi, nếu không kính sợ Ngài, chúng ta dễ lắm mà làm biết bao tội ác. Loài người vương vào nhiều tội ác vì chưa kính sợ Chúa đủ, chưa vâng lời Chúa đủ. Các giáo hội gây những sai lầm cũng vì con dân Chúa chưa sống hết lòng với Ngài. Vậy điều đáng làm là chúng ta kêu gọi nhau tìm kiếm hồng ân Thiên Chúa và kính sợ Ngài. Dù sự hiểu biết của chúng ta ít ỏi, trí óc của chúng ta có giới hạn, nhưng không vì thế mà chúng ta mất tình yêu của Thiên Chúa và tình yêu con người với nhau. Nếu các ông đã thành đạt, đã đắc chứng; nếu các ông đã tìm thấy chân lý trong Phật Giáo một cách chắc chắn thì không có lý do gì các ông phải bực phiền với hạnh phúc đức tin mà Chúa ban cho tôi. Ai nhân danh chân lý để gây hấn là tự chứng minh sự bất hạnh của mình, đó là người nói dối . Dù nhân danh chính nghĩa để gây hấn thì cũng tự chứng minh rằng hành động ấy là phi nghĩa. Ai nhân danh tôn giáo để khủng bố là người đó không có gì hạnh phúc cả mà chỉ có cuồng tín và vô minh. Con người sai trật là bình thường, triết lý tôn giáo cũng có khi sai trật với người nầy và đúng với người khác, nhưng chân lý cứu rỗi luôn luôn đúng với người có Đức Tin trong Chúa. Ai không thích có đức tin, ai không tìm kiếm Thiên Chúa mà cứ ôm chặt cái ách bản ngã để cố chấp và cay đắng là tại họ chứ không phải vì Chúa bất lực. Khi nhận biết Chúa là Đấng nào, tôi cũng nhận biết mình là ai, do đó tôi không trách móc những người xuyên tạc tôi, nhưng không vì thế mà cứ im lặng để cho các vị thao túng một cách dại dột. Khi tôi nhận được tình yêu Thiên Chúa thì lòng tôi yêu mến họ, vì tình trạng của họ hôm nay giống y như tình trạng giẫy chết của tôi ngày trước.
Tôi sẽ viết về sự giải thoát và những điều thực tế sinh động đầy hiệu năng của sự giải thoát mà Chúa Jesus Christ đã ban cho khi tôi sống với Lời Chúa, vì tôi muốn chỉ cho các ông biết rằng Ngài là Đấng đứng trên tất cả tư duy thiền định, Ngài nhìn thấu sốt ruột gan lòng dạ con người nên Ngài mới ban cho họ Đức Tin để đem người có đức tin của Ngài vào cõi đại định bình an thánh khiết mà Thiền chưa thể nào đạt tới được. Đây là một khám phá tuyệt vời nhất trong Chúa mà tôi rất háo hức muốn trình bày với bất cứ ai có lòng tìm kiếm. Tôi muốn quý vị đặt cho tôi nhiều câu hỏi hay nhất của quý vị để nhờ đó giúp tôi trình bày một cách thích hợp và thực tế hơn. Chúa sẵn sàng giúp tôi, nhưng Ngài muốn tôi được làm việc chung với nhiều người đã được Ơn Cứu Rỗi cũng như người chưa nhận được Ơn Cứu Rỗi. Đây là một điều đơn giản vô cùng mà nhiều người trí thức không thể thấy được vì người đó luôn luôn ý thức rằng mình là trí thức. Tôi sẽ căn cứ vào sự sống trong Lời Chúa Jesus và Kinh Thánh Tân & Cựu Ước để chứng minh một sự thật hạnh phúc trong Chúa rằng Lời Chúa đem tôi vào nơi Đại Định như thế nào. Nơi Đại Định của tôi là nơi Chúa hiện diện. Đừng vội tưởng tôi nói chơi do khùng điên hay cuồng tín mà sẽ hối tiếc. Nhưng ai trót lỡ nghĩ như thế để sau nầy hối tiếc thì Tình Yêu của Chúa Jesus Christ cũng xóa tan hết cho. Tôi chưa viết được, chưa có cơ hội nói được nên khi nhắc tới điều nầy ở đây sẽ phải va chạm nhiều hồ nghi nơi người đọc. Nhưng đây là một điều vô cùng lý thú đối với tôi. Tôi yên Tâm vô cùng vì Lời Chúa đã phán ‘’Tôi sẽ chẳng chết đâu, nhưng được sống; thuật lại những công việc Đức Giê-Hô-Va’’. (Thi Thiên 118:17): Tôi xin được viết ra để trước hết nói lên bài học quan trọng của mình, sau đó để xin lỗi các phật tử đã yêu mến tôi, xin lỗi quốc gia dân tộc, vì tôi đã đem cái chết cá nhân mình để đặt mình vào một cái chết có ý nghĩa chung, nhưng thực chất là phù du sai lạc nhất thời mà lại công khai hóa cả sự thật phù du ấy nữa khiến cho nhiều người ngỡ ngàng và thất vọng. Nhưng tâm hồn ai đã ở trong chân lý vĩnh cửu thì chắc chắn không còn bị sự phù phiếm làm phiền.

Người ta thích viết những quyển sách từ bi bác ái cao siêu huyền diệu từ chốn thiền môn thanh tịnh, chứ không ai thích kể lại những kỷ niệm thực tế đáng buồn để tìm cách làm cho nơi đó tốt hơn. Đó là một phần hậu quả của quan niệm ‘’xấu che tốt khoe’’! Giới tu hành nên loại bỏ quan niệm ‘’xấu che tốt khoe’’ nầy. Khi che cái xấu là khi người ta không thích sửa chữa. Khi khoe cái tốt quá nhiều làm cho người khoe trở nên kiêu ngạo và giả hình. Người nào cũng có cái xấu và cái tốt nhất định. Suốt một đời người chúng ta luôn luôn có cơ hội để hoàn thiện cái tốt và loại bỏ cái xấu. Nhưng nếu chúng ta che dấu cái xấu và khoe khoang cái tốt thì chúng ta không còn thật tâm hoàn thiện cái tốt hoặc loại bỏ cái xấu của mình. Bao lâu còn quan niệm xấu che tốt khoe, bấy lâu còn làm ngược lại mục đích tu hành của người tu sỹ.

Trước khi Biết Chúa Tôi Đã Thiền

Vì thất bại gia đình, tôi chuyên tâm tu thiền theo Pháp Hoa Hội Thượng của Ngài Phổ Quang. Ngay buổi đầu tiên gặp vị thầy thiền định, tôi được ngài hân hoan chào đón với lời khích lệ ‘’chắc chắn anh sẽ thành công trên đường tu tiến với pháp môn thiền’’. Khi ấy tôi có một căn nhà ván bên bờ sông Tân Thuận. Tôi làm một căn phòng đóng lưới muỗi để ngồi thiền thoáng mát, đúng phương hướng, đúng cách thức, đúng giờ giấc và trở lại ăn chay, phóng sanh mỗi tháng 2 lần. Chỉ ngồi thiền một thời gian ngắn là đã thấy những hiện tượng mật pháp xẩy ra như tay bắt ấn chú, miệng há hốc, nghiến răng, trẹo hàm, cổ đánh vòng tròn đến mức văng người ngã lăn ra…Xuất hồn đi các thế giới mênh mông, gặp đủ thứ trên đời mà từ lâu mình chưa bao giờ thấy. Những chuyện như thế tôi đem trao đổi với những anh em tu trước mình để học hỏi. Hầu như ai cũng trải qua những kinh nghiệm như vậy. Tu thiền thì cứ tu, vì tu thiền giúp cho mình có thêm bản lĩnh, thêm sức chịu đựng những gì bất đắc chí. Nhưng có một số đam mê và tội lỗi khác gia tăng do sự ngồi thiền đem đến, nổi bật hơn hết là tội kiêu ngạo. Người tu thiền lúc nào cũng cảm thấy mình cao hơn kẻ không tu, tự cho mình là người tìm thấy một cái gì đó sâu xa hơn người thường. Đây là những căn bịnh về thiền mà khi đang ngồi thiền người ta không thấy được, trong một quyển sách khác tôi sẽ nói rõ hơn.

Hằng ngày ăn chay, đi làm việc bình thường, đêm về tôi ngồi thiền. Mỗi tháng mua cá, lươn, ếch, chim chóc để phóng sanh vài lần. Giáo lý Phật Giáo cho rằng làm những công việc đó để hồi hướng công đức, là bồ tát hạnh. Người làm được những công việc đó luôn luôn mở cửa cho sự tự mãn len lõi vào trong lòng mình để định nghĩa những gì nó ưa được tôn vinh một cách kín đáo âm thầm sâu xa trong bản ngã. Vì những hành động đó luôn luôn thực hiện với một ý thức đạt thành chánh quả, chứng đắc A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề. Khi nhận ra lòng tự mãn của mình hơi cao một chút thì tự mình hạ nó xuống, cho rằng nó chỉ là một chuyện vui lẻ tẻ của bậc xuất thế gian chứ không phải vì tham vọng được thành Phật, được giải thoát gì cả. Đây lại là một ý nghĩ siêu kiêu ngạo len lỏi và chen lấn vào những ý nghĩ kiêu ngạo để sự kiêu ngạo bị đuổi ra khỏi tâm tư ý tưởng của mình. Trong thân thể mình cần yêu, cần ăn, cần uống, cần cái nầy cái nọ mà mình không kiểm soát hết để hạn chế nó thì thôi, nhưng cái gì làm mình thỏa mãn âm thầm hay thỏa mãn công khai đều trở thành quý báu không ai muốn buông ra, trừ khi mình tu khổ hạnh. Vì mình cũng biết rằng càng chèn ép, nó càng bung ra, càng để cho nó bung ra lại càng thoát khỏi sự cố chấp; càng thoát khỏi sự cố chấp của kiếp trược, kiến trược, mạng trược…để đạt đến sự chấm dứt phân biệt phải, trái, đúng, sai, hay, dở…Bất cấu, bất tịnh, bất tăng, bất giảm…Thế là mình cho mình đã ra khỏi biên kiến bỉ thử…Và cứ thế mà khiêm tốn một cách rất kiêu ngạo, kiêu ngạo một cách khiên nhường!

Khi được giam riêng trong xà lim số 13, tôi cảm thấy sung sướng hơn ở Nhà Bè nhiều. Được yên thân nằm ngủ, tắm, đi cầu tự do trong một căn phòng mờ mờ tối, bề ngang chừng 1.5 m, bề dài chừng 2.5 m, có cái bệ xi măng và chiếc chiếu rách tả tơi, có cái cầu tiêu và vòi nước khi đóng khi mở. Tôi bắt đầu ngồi thiền chăm chỉ hơn những năm trước. Tụng kinh, suy gẫm về thiền. Ngắm nghía lại chính mình, thấy cuộc đời thật là vô nghĩa. Mình tu cho lắm mà có thấy gì đâu. Tất cả chỉ là lý thuyết mơ hồ. Con người sống với lòng dục vô đáy, chỉ khi nào sa chân lỡ bước mới kêu cầu chút đỉnh rồi quên. Trên vách tường xà lim có nhiều câu than thở, nhiều câu kinh của những tôn giáo khác nhau. Nào là Phật Bà Quan Âm, nào là Mẹ Maria, nào là các thánh, nào là hồn thiêng sông núi, nào là thần chú Chuẩn Đề…Nhưng chỉ có một câu ‘’Chúa ơi sao đời con khổ quá’’ gieo vào tôi một tiếng kêu than có ý nghĩa, dù lúc đó tôi chưa tin Chúa.

Khi Tôi Bắt Đầu Đọc Kinh Thánh

Tôi đọc Kinh Thánh Cựu Ước. Chẳng hiểu gì cả mà chỉ thấy con người phản phúc vô ơn, Đấng quyền năng trừng phạt và tha thứ. Tôi nói với bà vợ muôn thuở rằng ‘’Chúa ác quá’’. Thế mà tôi không thể bỏ qua quyển Kinh Thánh được. Đến khi bỏ Cựu Ước để đọc qua Tân Ước, tôi thấy Lời Chúa Jesus rõ ràng, ngắn gọn, thực tế hơn lời Đức phật nhiều. Xin cho tôi để dành viết điều nầy kỹ hơn trong một quyển sách khác. Bây giờ tôi nói đến tâm tình tự sát của tôi đi đến đâu sau khi đọc KinhThánh. Tôi hứa là sẽ viết một quyển sách về Thiền mênh mông không làm sao đạt được trong Phật Phật Giáo và đại định thiền của người tin Chúa khi sống như Nhánh Nho liền với Cây Nho.

Khi đã biết Chúa, nhiều điều mơ hồ thắc mắc của tôi trong Phật Giáo đều được Chúa Jesus giải đáp một cách rõ ràng trong Thánh Kinh. Tôi rất muốn viết một cuốn sách đối chiếu Phật và Chúa khác nhau như thế nào qua kinh điển, cũng như trên thực tế mà cá nhân tôi đã học được cả hai bên, dù sự hiểu biết cá nhân mình còn tương đối thế nào đi nữa, kinh nghiệm chân thật đối với tôi vẫn là quan trọng. Điều nầy phải có thời gian và cần người đồng sự đã từng trải Ơn Chúa để thu thập tài liệu, thảo luận, chia xẻ những gì chứng thật nhất để khỏi phí giấy bút. Những bài báo kích bác của các trí thức phật tử đối với tôi có thể giúp cho tôi viết thêm nhiều điều lý thú và thực tế hơn. Ngay cả khi họ chỉ trích tôi cũng đã làm cho tôi thấy rõ hơn những nguyên nhân thất bại của họ bây giờ, nên tôi có thể cảm thông họ như nhìn lại con người cũ khốn nạn của mình ngày xưa. Nếu quả thật con người có lương tâm đi tìm chân thiện mỹ thì không cần hằn học nhau, nhưng nên lắng nghe những khác biệt của nhau. Ai cũng có quyền nói lên điều mình tin là tốt đẹp, nhờ đó mà điều tốt đẹp của mình có thể được người khác bồi đắp thêm để làm cho phong phú hơn nữa. Tôi tin rằng Thượng Đế là chân lý như Ngài đã xác nhận, nhưng tôi đã hiểu hết Thượng Đế đâu, tuy nhiên sự hiểu biết và lòng tin của tôi tới đâu là điều quý báu vá ích lợi cho tôi tới đó.

Trong lãnh vực cao siêu, con người càng thực hành càng thất bại, nhưng khi con người nghỉ ngơi để ngắm xem sự thực hiện của Thiên Chúa, thì kết quả xẩy đến rất lạ lùng. Chúa Jesus đã nhấn mạnh chân lý nầy trong sách Mathiơ 11:25-30. Cái gì cao siêu đến nỗi người thông thái không thể nào thấy được thì Đức Chúa Trời soi sáng để con người có thể thật sự nhìn thấy cái cao siêu ấy bằng đức tin. Khi Chúa soi sáng cho con người những vấn đề ngoài tầm hiểu biết của con người, thì kẻ dại khờ như con trẻ cũng thấy được. Nhưng khi con người từ chối sự soi sáng của Ngài thì dù họ thông minh đến mấy cũng không thể nào hiểu thấu được. Sự soi sáng (mặc khải) của Đức Chúa Trời chỉ thông qua Con Một của Ngài. Vì Con đến từ Cha. Con Biết Cha và tỏ ra cho ai đến với Con.

Tội lỗi của con người là điều không thể chối cãi được, nhưng những giải pháp tôn giáo để con người tự kềm chế mình khỏi tội lỗi và tháo gỡ nó ra khỏi đời sống nội tâm cũng như hành vi của con người, thì quả thật là điều không tưởng. Trong Phật Giáo, không ai biết được mình phải trải qua bao nhiêu tỷ a-tăng-kỳ-kiếp để tu cho sạch trơn tội lỗi của mình và để thành Phật. Mỗi A-tăng-kỳ-kiếp thì không thể tính nổi chiều dài, vì nó có tới vô số kiếp. Ai là người đã từng thành thật tháo gỡ tội lỗi của mình hôm nay mới biết mình bất lực. Ai là người siêu giả dối, tự lừa phỉnh mình bằng triết lý cao siêu đầy hư vọng mông lung thì cứ rơi vào rừng triết lý tối tăm mù mịt để tiếp tục nói dốc cho thiên hạ nể nang mình. Nếu không nhìn nhận tội lỗi của mình bằng Lời Chúa và không tiếp nhận giải pháp cứu chuộc, thứ tha của Thiên Chúa thì bao nhiêu cá nhân trong nhân loại sẽ có bấy nhiêu định nghĩa về tội lỗi và bấy nhiêu giải pháp bất lực để che dấu sự đầu hàng tội lỗi.

Phật Giáo là một tôn giáo có nhiều kinh điển và nhiều triết lý mà phần nhiều người bình dân không với tới nổi, do đó ai có thể hiểu được một phần nào về kinh điển Phật Giáo là đã lấy làm kiêu hãnh, tự cho mình là kẻ hơn đời; còn những bậc tu sỹ thì tự cho mình là Pháp Sư hay là Thế Gian Sư. Nhưng tiếc thay Phật Giáo không đề cập sâu sắc đến vấn đề rất quan trọng mà bất cứ con người nào cũng có sẵn từ khi còn nằm trong bụng mẹ, có sẵn tự trong tổ tiên mình truyền lại, đó là bản tính tội lỗi của con người. Ngày nay Phật Giáo trở nên thích hợp với nhiều người vì họ không muốn nhận ra mình là kẻ có tội. Phật Giáo không nhìn thấy tội lỗi một cách rốt ráo, thậm chí tôn giáo nầy cũng không thừa nhận dứt khoát có tội lỗi hay không có tội lỗi. Tội lỗi là gì? Tội lỗi đối với ai và bắt đầu từ đâu? Làm sao để giải quyết? Giải quyết như thế nào? Ai là người có tư cách đưa ra những tiêu chuẩn đạo đức và tội lỗi? Các tiêu chuẩn đó như thế nào qua các thời đại văn minh và văn hóa khác nhau?

Tội lỗi và hậu quả của nó vào đời sau ra sao thì tôn giáo nào cũng nói được, người ta đọc để mà tin chứ không ai chứng minh được theo phương pháp khoa học thực nghiệm. Ấy thế mà vẫn có người bài bác Đức Tin bằng lý luận ‘’khoa học thực nghiệm’’. Khoa tâm lý học và tội phạm học mới nhìn thấy được phần nào sau lớp vỏ bên ngoài mà thôi. Tôn giáo đã đóng góp vào đời sống luân lý đạo đức một cách có giới hạn trong đời nầy chứ không làm sao giải quyết tận gốc rễ cho cả đời sau, trong khi cái đích của tôn giáo không chỉ giới hạn trong đời nầy mà còn quan trọng hơn nữa là đời sau. Tôi chưa biết nhiều tôn giáo khác để nói tới vấn đề giải quyết tội lỗi, nhưng Phật Giáo và Tin Lành thì tôi dám bàn với bất cứ một người nào muốn cùng tôi làm cho sáng tỏ thêm vì mục đích tốt đối với nhau. Theo tôi biết Phật Giáo chỉ dạy cho con người cách tu sửa từ hành vi bên ngoài qua các giới luật chi li tiểu tiết mà thực chất hiếm ai làm được. Những phương pháp của Phật Giáo nhằm tu sửa bên trong chiều sâu tâm hồn con người thì còn nhiều bàn cãi lắm. Ai là người đã thật sự chứng quả trong Phật Giáo mà có lòng chỉ dạy thêm cho tôi thì tôi rất muốn lắng nghe. Nhưng cho đến nay, tôi chưa thấy ai là người đã đạt đạo. Người hiểu biết thì nhiều, nhưng người đạt đạo thì không có. Người đáng kính trọng cũng nhiều, nhưng người đã chứng quả thì tôi chưa gặp. Lấy hai kinh nghiệm của tôi về giải quyết tội lỗi trong Phật Giáo và trong Tin Lành để trao đổi với bất cứ ai, tôi cũng mong được tiếp xúc với tinh thần hiểu biết và mục đích nhân bản từ Á sang Âu.

Nguyễn Huệ Nhật

Học Thì Phải Hành

 

Tác Giả: A. W. Tozer

Ông Charles G. Finney tin rằng việc dạy Kinh Thánh mà không có sự áp dụng trên phương diện đạo đức có thể còn tệ hơn việc không dạy gì cả và có thể gây nên những tổn thương thực sự lớn cho những người nghe. Tôi thường cảm thấy rằng điều này có vẻ là một quan điểm cực đoan, nhưng sau nhiều năm chiêm nghiệm, tôi thay đổi ý kiến, hay có một quan điểm gần như giống hệt nó.

Hầu như không có bất cứ điều gì buồn tẻ và vô nghĩa cho bằng giáo lý Kinh Thánh được dạy vì cớ lợi ích của chính nó. Lẽ thật tách rời cuộc sống không phải là lẽ thật trong ý nghĩa Thánh Kinh, nhưng là một cái gì đó khác hơn và là một cái gì đó thấp kém hơn. Thần học là một tập hợp các sự kiện liên quan đến Ðức Chúa Trời, con người và thế giới. Những sự kiện này có thể và thường được công bố như là những giá trị nội tại; và ở đó có một cái bẫy cho cả người dạy lẫn người nghe.

Kinh Thánh, giữa vòng những điều khác, là một cuốn sách của lẽ thật được bày tỏ. Tức là một số sự kiện nào đó được mặc khải mà không một tâm trí vô cùng lỗi lạc nào có thể khám phá. Chúng ta chỉ có thể hiểu được bản chất của những sự kiện này khi kinh nghiệm chúng. Chúng được giấu đằng sau một tấm màn; và cho đến khi có ai đó nói rằng họ được cảm thúc bởi Thánh Linh để đến và dở bỏ tấm màn đi, không một con người hay chết nào có thể biết đến chúng. Chúng ta gọi việc dở bỏ tấm màn vô thức khỏi những cái chưa được khám phá là sự khải thị thiêng liêng.

Tuy nhiên, Kinh Thánh còn hơn là một tuyển tập những sự kiện mãi cho đến nay chưa được biết đến về Ðức Chúa Trời, con người và vũ trụ. Nó là một cuốn sách của sự mời gọi nhiệt thành dựa trên những sự kiện đó. Phần lớn Kinh Thánh là một nỗ lực cấp bách nhằm thuyết phục con người thay đổi đường lối của mình và đưa đời sống của họ trở lại hòa thuận với ý muốn Ðức Chúa Trời như đã được viết trong những trang quý báu của nó.

Chẳng có người nào trở nên tốt hơn vì biết rằng từ ban đầu Ðức Chúa Trời đã dựng nên trời và đất. Ma quỷ cũng biết điều đó, A-háp và Giu-đa Ích-ca-ri-ốt cũng thế. Chẳng có người nào trở nên tốt hơn khi biết rằng vì Ðức Chúa Trời quá yêu thương thế gian nên đã ban Con Một của Ngài xuống trần chịu chết vì sự cứu chuộc tội lỗi họ. Trong địa ngục, có hàng triệu người biết điều đó. Lẽ thật thần học hoàn toàn vô dụng cho đến khi nó được vâng theo. Mục đích đằng sau mọi giáo lý là để bảo vệ hành động đạo đức.

Nhìn chung, điều đã bị bỏ qua chính là sự thật, như được chép trong Thánh Kinh Cơ Ðốc, đó là một điều mang tính đạo đức; nó không chỉ nhằm vào lý trí, mà còn nhằm vào ý chí con người nữa. Nó hướng chính mình đến toàn bộ con người và những đòi hỏi của nó không thể được hoàn thành chỉ bởi việc nắm bắt, thấu hiểu nó trong tâm trí mà thôi. Lẽ thật chiếm lấy pháo đài của lòng người và sẽ không được thỏa mãn cho đến khi nó chinh phục được mọi sự ở đó. Ý chí phải đến và quy phục dưới lưỡi gươm của lẽ thật. Ý chí phải đứng đó chú ý nhận những mệnh lệnh mà nó phải vui vẻ vâng phục. Thiếu điều này, bất cứ sự hiểu biết nào về lẽ thật Cơ Ðốc cũng không đủ và chỉ vô ích mà thôi.

Sự giải nghĩa Kinh Thánh mà không có sự áp dụng mang tính chất đạo đức sẽ chẳng gây nên sự đối kháng nào. Chỉ khi nào người nghe được làm cho hiểu rằng lẽ thật mâu thuẫn với lòng mình, khi đó sự chống đối xuất hiện. Chừng nào mà con người có thể nghe rằng lẽ thật chính thống đã tách rời khỏi đời sống, khi đó họ sẽ gia nhập và ủng hộ các Hội Thánh, các học viện mà không một lời phản đối nào. Lẽ thật chỉ là một bài hát hay, trở nên ngọt ngào bởi những cuộc nhóm họp dài hơi, dễ xúc động; và vì nó không đòi hỏi gì nhiều, chỉ vài đô la thôi, mà lại vừa được nghe nhạc hay, vừa có những tình bạn thú vị, và một cảm giác khỏe mạnh thoải mái, lẽ thật sẽ không gặp sự chống đối nào từ những tín đồ sùng đạo. Phần lớn điều đó được xem là Cơ Ðốc giáo Tân Ước, vốn chỉ nhỉnh hơn lẽ thật bị chống đối một chút, được làm cho ngọt dịu với bài hát và làm cho dễ chịu bởi trò giải trí tôn giáo.

Có lẽ không có phần nào khác trong Kinh Thánh có thể so sánh với những thư tín của Phao-lô khi nói đến việc tạo nên những vị thánh nhân tạo. Phi-e-rơ cảnh báo rằng những người dốt nát và những người không tin quyết sẽ xuyên tạc những điều Phao-lô viết và rồi tự chuốc lấy sự hư mất cho riêng mình (II Phi-e-rơ 3:16); và chúng ta chỉ cần viếng thăm một hội nghị Kinh Thánh nào đó, lắng nghe một vài bài thuyết trình thì sẽ biết được ông muốn nói gì. Một điều đáng lo ngại là những giáo lý của Phao-lô có thể được dạy với sự chính xác đến từng con chữ mà không khiến người nghe trở nên tốt hơn chút nào. Vị giáo sư có thể và thường dạy lẽ thật không khác gì nhồi nhét, bỏ mặc nó ở đó cho người nghe mà không tạo cho họ một nhân thức về bổn phận đạo đức nào cả.

Một lý do cho việc tách rời giữa lẽ thật và đời sống có lẽ là do thiếu sự soi sáng của Thánh Linh. Một nguyên nhân chắc chắn khác là người giáo viên không muốn gây rắc rối cho chính mình. Bất cứ người nào có khả năng giảng dạy hợp lý đều có thể gần gũi với hội chúng bình thường nếu ông ta chỉ việc “cho họ ăn” và để họ yên. Ban phát nhiều lẽ thật khách quan và không bao giờ ám chỉ rằng họ sai thì mọi chuyện sẽ ổn, họ sẽ thỏa lòng lắm.

Trái lại, người nào giảng dạy lẽ thật và áp dụng nó vào đời sống của người nghe sẽ cảm biết móng vuốt và gai nhọn. Ông ta sẽ sống rất khó khăn, nhưng là một đời sống vinh hiển. Nguyện Chúa sẽ dấy lên nhiều những tiên tri như vậy. Hội Thánh hết sức cần họ.

A. W. Tozer

Follow

Get every new post delivered to your Inbox.