Đối Chiếu Kinh Thánh về TIẾNG LẠ
Qua hai bản dịch Truyền thống Việt Nam va New International Version.
Bản Dịch Tiếnbg Việt – Bản Dịch NIV
Mác 16:17, tiếng mới – speak in tongues
CV 2:4, tiếng khác – other tongues
10:46, tiếng ngoại quốc – speak in tongues
19:6, tiếng ngoại quốc – speak in tongues
1Côrintô12:10, các thứ tiếng – different kinds of tongues
* Câu 28, các thứ tiếng – different Kinds of tongues
* Câu 30-31, tiếng lạ – speak in tongues.
1.Côrintô 13:1, tiếng loài
người và tiếng thiên sứ – Tongues of men and Angel
(Trong Kinh Thánh những lần thiên sứ hiện ra đều nói tiếng người).
1Côrintô 14:1, tiếng lạ – speak in a tonge
* Câu 4, tiếng lạ (tự gây dựng mình)- speak in a tongue
(xem bông trái và đối chiếu Galaty 5 để biết kết quả của sự gây dựng…)
* Câu 5, tiếng lạ – speak in tongues.
* Câu 6, tiếng lạ – speak in tongues.
* Câu 13, tiếng lạ – speak in a tongue.
* Câu 14, CN bằng tiếng lạ – pray in a tongue.
* Câu 18 Tiếng lạ – speak in tongues.
* Câu 19 Tiếng lạ – words in a tongue.
* Câu 20 Tiếng lạ – strange tongues. (Êsai):11,12 là môi lạ, lưỡi khác#foreign lips, strange tongues và Êxêchiên 3:5 tiếng mọi rợ khó hiểu # obscure speech).
* Câu 22, các thứ tiếng – tongues.
* Câu 23, nói tiếng lạ – speak in tongues.
* Câu 26, tiếng lạ – a tongue.
* Câu 27, tiếng lạ – speak in a tongue.
Trên đây chỉ là bản đối chiếu văn tự dịch thuật về Tiếng Lạ trong hai bản Kinh Thánh Việt (bản truyền thống) và tiếng Anh (NIV). Ơn Nói Tiếng Lạ, hay là Ơn Cầu Nguyện Tiếng Lạ và Ơn Thông Giải Tiếng Lạ thì không thể nào bàn được với những người không có kinh nghiệm. Vì người không có kinh nghiệm với các Ân Tứ trên đây thường có khuynh hướng chống báng hoặc phủ nhận một cách chủ quan, cố chấp. Đôi khi vì thiên tính hướng ngoại, một vài anh em đã bắt chước nói tiếng lạ cho giống anh em mình, sau đó một thời gian bị Chúa cáo trách thái độ bắt chước ân ban một cách nhân tạo, sau đó trở lại chống đối tiếng lạ mà không chịu ăn năn sự sai trật của mình. Một mặt khác, chúng ta cũng phải nhìn nhận rằng phần đông những người được Ơn Nói Tiếng Lạ đều sử dụng Ân Tứ nầy một cách bãi. Trong khi Kinh Thánh và các hội thánh truyền thống cực lực chống lại sự lộn xộn của Tiếng Lạ thì những Hội Thánh Ân Tứ hay Hội Thánh Ngũ Tuần lại cổ xúy Tiếng Lạ một cách quá đáng. Họ kêu gào ”anh em hãy hát bằng Tiếng Mới, hãy cầu nguyện bằng Tiếng Lạ lên đi.v.v.”. Tôi đã thấy người ta dùng Tiếng Lạ để đuổi quỷ; hoặc người ta dùng Tiếng Lạ để chỉ vào mặt một người khi họ cho rằng người đó bị quỷ ám. Thái độ nầy không bày tỏ năng quyền thiên thượng mà chỉ biểu lộ tính độc đoán, quá khích, thiếu hiểu biết, cũng như thiếu tình yêu thương của chính người đang dùng Tiếng Lạ. Thông thường những người lạm dụng Ân Tứ Nói Tiếng Lạ đều dùng cảm xúc để làm ”thước đo” thuộc linh. Tôi có cảm tưởng rằng họ xem Kinh Thánh như là thần chú của thầy phù thủy. Tôi đã nhiều lần chứng kiến, (hay đúng hơn là va chạm) với một vị mục sư người Việt Nam. Ông nầy chuyên cổ xúy Tiếng Lạ, và đề cao rằng sự té ngã và cầu nguyện bằng Tiếng Lạ gọi là ”Báp Tem Thánh Linh”. Nhưng kỳ thật ông ta đã dùng Tiếng Lạ để gây ảnh hưởng uy tín và quyền lợi cho riêng mình. Ông mục sư nầy đã dùng „tiếng lạ“ để tranh thủ tiền bạc một cách bất chính. Đây là một chuyện thật mà Chúa cho tôi chạm phải để học tập từng bước đi theo Ngài. Sự lạm dụng Ân Tứ của Đức Chúa Trời đã đưa đến nhiều tai hại cho Hội Thánh. Nếu Tiếng Lạ chỉ gây ra sự thu hút nhiều người tò mò mê tín đến để la hét om sòm, thì tôi cho rằng đó là một điều rất tai hại. Vì trong nhiều người la hét om sòm đó đã có một ít người sợ sệt hoang mang và mất đức tin (tôi biết một số trường hợp cụ thể), chưa kể những người la hét om sòm đó sau một thời gian cũng sa ngã ê chề!
Dĩ nhiên nhiều ân tứ khác cũng có thể bị lạm dụng, nhưng sự lạm dụng các Ân Tứ khác như Ân Tứ Giảng Dạy, ân tứ Chăm Sóc thì khá tinh vi, khó nhìn thấy được; trong khi sự lạm dụng Ân Tứ Nói Tiếng Lạ và Ân Tứ Nói Tiên Tri thì tràn lan và dễ nhận thấy hơn. Người đã lạm dụng Ân Tứ Nói Tiếng Lạ cũng thường lạm dụng luôn một ”ân tứ” tự tạo ra cho riêng mình, đó là ”Chúa phán với tôi như thế nầy, anh em phải nghe theo…” Và sự lạm dụng nầy đã trở thành thói quen buộc chặt họ đến nỗi họ không đủ can đảm nhìn nhận để ăn năn. Sau khi được Chúa ban ơn cầu nguyện bằng Tiếng Lạ, tôi đã dạn dĩ tiếp xúc với các hội thánh Ân Tứ hơn, và có thể chỉ đích danh một số người đi từ cảm xúc để gây kích động, để khoe mình…Và những bông trái tiếp theo sau đó là nói dối, vu khống những người mà họ không đồng ”quan điểm thuộc linh”. Điều nầy đã gây nên sự phân rẽ Thân Thể Đấng Christ một cách sâu sắc.
Vì tha thiết muốn nhận biết Ân Ban và Quyền Năng của Chúa qua chức vụ và con người, tôi dấn thân học hỏi qua các bài thần học và các giáo phái. Chúa đã cho tôi nhận biết một số bài học thực tế mà phần đông người ta có khuynh hướng xấu che tốt khoe. Nhờ vậy tôi dạn dĩ đi theo Chúa mà không bị ai dắt đi lạc. Một người hết lòng đi theo Chúa không bao giờ Chúa để cho lầm lạc. Một người kiêu ngạo, háo danh, tham lợi mà cứ núp mình trong chức vụ, là một người ưa bày vẽ nhiều điều để lạm dụng Ân Tứ thiêng liêng. Nên nhớ rằng thực tế thật là chua xót, vì một khi họ đã dám lạm dụng Ân Tứ thiêng liêng thì các sự lạm dụng khác như tiền bạc, tính háo thắng, tính diễn kịch của họ đều được thể hiện tối đa để khai thác lòng tin đơn sơ của nhiều người. Sách Công Vụ 19:13-16 nói đến những người Giu-đa mạo danh Chúa để trừ quỷ như thế nào và Công Vụ 15:16-19. Ngày nay chúng ta vẫn thấy những hạng người ấy nhan nhãn giữa trần gian.
Được gây dựng, được tái sinh trong Hội Thánh CMA, tôi trở nên một người chuộng tri thức và chống Tiếng Lạ. Cho đến khi tôi tham gia các hội thánh Ân Tứ, tôi quá khổ tâm về điều nầy, do đó tôi tha thiết xin Chúa chỉ cho con được hiểu điều nầy là thật hay giả. Sau một thời gian tôi quặn thắt, Chúa đã thấy lòng tôi và ban cho tôi Ân Tứ Cầu Nguyện Tiếng Lạ. Xin nói lại, tôi được Chúa ban Ân Tứ Cầu Nguyện bằng Tiếng Lạ chứ không phải Ân Tứ Nói Tiếng Lạ. Từ đó tôi mới cảm nhận rằng đây là một Ân Ban mầu nhiệm để cầu nguyện một cách tự do với Chúa mà không cần lý trí tham gia vào. Và khi tôi cầu nguyện bằng Tiếng Lạ thì Chúa đã giải phóng tôi khỏi những ràng buộc của thần chú trong Phật Giáo mà suốt nhiều năm qua tâm thần tôi đã bị ảnh hưởng sâu xa và trước đó một thời gian dài tôi đã không để ý. Từ khi tôi được cầu nguyện bằng Tiếng Lạ, tâm thần tôi được cầu nguyện với một cảm nhận tươi mới, mạnh mẽ, tự do hơn; kể cả khi tôi cầu nguyện bằng tiếng Việt Nam hay tiếng Anh về sau nầy cũng được nóng cháy tha thiết, sống động, chân thật với chính mình trước mặt Chúa. Sự cảm nhận thiết tha sâu nhiệm khi cầu nguyện bằng tiếng lạ là một kinh nghiệm kỳ diệu, gần gũi với Chúa trong tâm thần mình. Nhưng tôi không bao giờ được thúc dục để cầu nguyện bằng Tiếng Lạ khi đang cùng cầu nguyện với những anh em khác. Tôi cũng không ngăn trở anh em khác cầu nguyện bằng tiếng lạ. Nhưng tôi biết thế nào là cầu nguyện tiếng lạ đúng cách và đúng chỗ. Trong 1 Cô-rin-tô 14, thánh Phao-lô khiển trách nhiều người trong Hội Thánh nầy đã nói tiếng lạ rất lộn xộn, nhưng Phao-lô cũng đã xác nhận công khai rằng ông là người nói tiếng lạ nhiều hơn hết thảy anh em trong Hội Thánh Cô-rin-tô.
Thật ra không chỉ một mình ân tứ tiếng lạ bị lạm dụng. Các ân tứ khác như ân tứ giảng dạy, ân tứ nói tiên tri, ân tứ chăm sóc thăm viếng, ân tứ cầu nguyện, ân tứ chữa bịnh, ân tứ yêu thương an ủi đều bị lạm dụng tùy theo cá nhân và tuỳ theo trình độ hoặc tuỳ theo tấm lòng kính sợ Chúa nhiều hay ít. Điều nầy đã xẩy ra từ xưa đến nay. Khi một người dám lạm dụng một ân tứ thiêng liêng, anh ta có thể dễ dàng lạm dụng bất cứ ân tứ thiêng liêng khác. Hoặc giả tạo ân tứ chẳng hạn.
Mỗi người nên nôn nả tìm kiếm mọi ân ban thiêng liêng, kể cả ân ban nói tiếng lạ.Tuy nhiên thái độ hô hào, la lối, cổ vũ người khác cầu nguyện tiếng lạ đều giống như những ông thầy phù thủy cầu vong, không đúng với Kinh Thánh. Một người có kinh nghiệm cầu nguyện bằng tiếng lạ là một người được sự gây dựng kín nhiệm của Chúa. Người ấy trở nên sâu sắc, ôn hòa, lắng nghe, từ tốn và nhất là yêu thương, tiết độ, nhịn nhục, nhân từ chứ không phải là một người la lối nhất thời rồi sau đó nổi lên sự phê bình, chỉ trích, giận dỗi và độc đoán.
Huệ Nhật (HueNhat.net)
