Khi cài Linux chung với Windows thường chúng ta sử dụng trình Boot Loader (trình nạp hệ điều hành) như LILO hay GRUB của Linux, hoặc cũng có thể sử dụng BootMagic. Đặc điểm đầu tiên của các trình Boot Loader như GRUB hay BootMagic là giao diện đồ họa đẹp và trực quan.
Đa số trường hợp ta sử dụng GRUB. Tuy nhiên, có bất tiện là phải cài đè lên MBR (Master Boot Record), điều này sẽ làm cho Windows không khởi động được khi không dùng Linux nữa (lúc đó chúng ta phải phục hồi MBR bằng lệnh fdisk /mbr).
Có lẽ ai cũng biết là Windows có thể khởi động đa hệ điều hành bằng trình Boot của nó với giao diện văn bản và điều khiển bằng phím mũi tên. Windows có thể tự động nhận diện hệ điều hành khi cài thêm nhưng nó lại không nhận diện được Linux (ngay cả khi ta sửa nội dung trong tập tin Boot.ini). Tuy nhiên, ta vẫn có thể khởi động Linux bằng trình Boot của Windows nếu làm theo cách dưới đây.
Giả sử đĩa cứng của chúng ta chia làm 4 phân vùng: 2 phân vùng đầu tiên dành cho Windows, phân vùng thứ 3 dành để cài Linux và phân vùng thứ 4 là phân vùng Linux SWAP, máy đã có cài hệ điều hành Windows trước đó.
Linux không gọi 4 phân vùng đó là C, D… như Windows mà sẽ gọi là hda1, hda2, hda3… (xem thêm tài liệu hướng dẫn Linux) và như vậy phân vùng thứ 3 của chúng ta dành cho Linux là hda3.
Trong khi cài Linux, bạn cần chú ý khi gặp bước yêu cầu chọn loại Boot Loader (LILO hay GRUB) và cài Boot Loader này ở MBR hay phân vùng cài Linux. Chúng ta phải chọn cài Boot Loader ở hda3 (phân vùng cài Linux), không được cài lên MBR. Bạn cũng đừng quên tạo một đĩa mềm khởi động cho Linux trong quá trình cài, vì khi cài Boot Loader cho Linux ở hda3 thì ta chưa khởi động được Linux bằng đĩa cứng.
Sau khi cài xong Linux, chúng ta đưa đĩa mềm khởi động đã tạo vào ổ (đừng quên thiết lập BIOS khởi động từ đĩa mềm) để khởi động lại máy. Khi khởi động xong Linux, bạn cho một đĩa mềm còn trống tối thiểu khoảng 1KB vào ổ đĩa và chạy chương trình Shell (một chương trình có giao diện dòng lệnh giống như Command Promp của Windows), ta thực hiện lệnh sau:
dd if=/dev/hda3 bs=512 count=1 of=/mnt/floppy/ LinBoot.bin.
Lệnh trên sẽ tạo trên đĩa mềm một tập tin nhị phân có tên LinBoot.bin.
Sau đó, thoát khỏi Linux và khởi động vào Windows. Ta chép tập tin LinuxBoot.bin và thư mục gốc của ổ đĩa C. Tiếp đó, mở tập tin Boot.ini ở thư mục gốc đĩa C để thêm vào cuối tập tin dòng:
C:\LinBoot.bin=”Khoi dong Linux”
Chú ý: tập tin Boot.ini có thuộc tính hệ thống và thuộc tính ẩn, bạn nhấp phải chuột lên My Computer (nếu dùng Windows XP/ 2000), chọn Properties/ Advanced > nhấn nút Setting của phần Startup and Recovery. Một hộp thoại Startup and Recovery sẽ xuất hiện, nhấn nút Edit trong phần Startup. Notepad sẽ mở tập tin Boot.ini cho bạn sửa chữa.
Khi không thích sử dụng Linux nữa thì chỉ cần format lại phân vùng đã cài Linux, sau đó xóa tập tin LinBoot.bin và bỏ dòng văn bản đã thêm vào tập tin Boot.ini đi là xong.
ZHAOZHIXIN
